[Dịch] Tây Huyễn: Tay Cầm Mười Hai Phù Chú, Ta Tận Hưởng Cuộc Sống

/

Chương 95: Nơi giao hội đông tây, thành Phong Nhiêu Tự Do

Chương 95: Nơi giao hội đông tây, thành Phong Nhiêu Tự Do

[Dịch] Tây Huyễn: Tay Cầm Mười Hai Phù Chú, Ta Tận Hưởng Cuộc Sống

Nam Lân Sơn Vinh Đấu

8.254 chữ

31-07-2026

Thành Tự Do không giống với chủ thành của các đại quý tộc. Đây là một tòa thành lấy tự do dân làm chủ thể, không chịu sự cai trị của bất kỳ quý tộc nào và có vệ đội riêng. Cơ quan quyền lực cao nhất trong thành chính là nghị viện, bao gồm các nghị viên do thị dân bầu ra.

Chỉ là, người thông minh đều hiểu rõ, thành Tự Do thực chất chẳng hề tự do. Ngay cả các nghị viên đại diện cho quyền lực tối cao của thành phố cũng thường có mối quan hệ phức tạp, chằng chịt với quý tộc khắp nơi.

Bằng không, nếu chẳng có tiền tài hay thế lực chống lưng, làm sao có thể tham gia tranh cử?

Cho nên, sự ra đời của các thị trấn tự do, nói là vùng đất không tưởng do tự do dân tự mình kiến tạo vì không muốn chịu sự cai trị của quý tộc, chi bằng nói đó là sản phẩm thỏa hiệp giữa các đại quý tộc. Khi không ai có thể nuốt trọn được vùng đất kẹt ở giữa này, họ đành nhượng bộ để bảo đảm lợi ích lẫn nhau.

Nhưng ít nhất trên danh nghĩa, thành Tự Do vẫn là tự do.

Dù là phong địa quý tộc xưng bá một phương như thổ hoàng đế ở lãnh địa của mình, khi đến đây cũng phải tuân thủ luật pháp. Ít nhất ở nơi này, giết người thì phải bồi thường, tuyệt đối không thể làm mưa làm gió như trên địa bàn của mình.

Bằng không, kẻ đó sẽ tự biến mình thành kẻ thù của thị trấn tự do cùng toàn bộ quý tộc xung quanh.

Nằm ở trung bộ Cáp Nhĩ Tư vương quốc, được xây dựng tại nơi giao hội giữa Tiểu Công Chúa hà và Phong Nhiêu hà, phía tây giáp bình nguyên Cáp Nhĩ Tư, phía hạ lưu giáp bình nguyên Phong Nhiêu, phía đông giáp Cống Đa Lâm hà cốc, thành Phong Nhiêu Tự Do chính là sản phẩm thỏa hiệp giữa Cáp Nhĩ Tư vương quốc và chư vị quý tộc của Cống Đa Lâm vương quốc cũ sau khi thôn tính vương quốc này.

Nhắc mới nhớ, năm xưa sơ đại quốc vương của Cáp Nhĩ Tư vương quốc cũng từng muốn dời đô về nơi đây.

Nhưng đáng tiếc, cho dù ông có hùng tài đại lược đến đâu thì cũng không thể vượt khỏi thời đại, vẫn phải thỏa hiệp với phong địa quý tộc khắp nơi. Đó là chưa kể sau khi thảm bại tại Dung Lô bảo, giấc mộng đế quốc tan thành mây khói, ông cũng chẳng còn đủ thực lực để trấn áp hoàn toàn đám quý tộc thuộc Cống Đa Lâm vương quốc cũ.

Việc sắc phong cho quý tộc thuộc vương đạo phái như Lâm Khắc đến cài cắm thế lực ở vùng này đã được coi là giới hạn tối đa.

Ông chỉ đành lùi một bước, xây dựng một tòa thành tự do tại đây.

Còn Phong Nhiêu thành nhờ nằm ở huyết mạch giao thông quan trọng kết nối hai miền đông tây của vương quốc, lại là trung tâm đấu tranh quyền lực giữa quý tộc hai bên, nên thương mại ở đây vô cùng phát triển.

Hơn nữa, thượng lưu Tiểu Công Chúa hà và hạ lưu Phong Nhiêu hà lần lượt là hai kho lương lớn của Cáp Nhĩ Tư vương quốc. Mỗi ngày đều có vô số lương thảo được vận chuyển qua đường tào vận. Do đó, dân số thường trú của Phong Nhiêu thành đã vượt mốc ba mươi vạn người, dân số vãng lai cũng lên tới gần mười vạn!

Một tòa thành hơn bốn mươi vạn dân, nếu đặt ở Bắc Cảnh thì hoàn toàn xứng danh đệ nhất đại thành không thể tranh cãi.

Ngay cả vương đô vốn là trung tâm chính trị của Cáp Nhĩ Tư vương quốc, nếu so về kinh tế và dân số với Phong Nhiêu thành cũng kém xa.

Đó là chưa kể, nơi đây còn là cửa ngõ giao thông chiến lược để thế lực vương quốc tiến vào ba hành tỉnh Cống Đa Lâm.

Nếu mất đi quyền kiểm soát nơi này, sức khống chế của Cáp Nhĩ Tư vương quốc đối với ba hành tỉnh thuộc Cống Đa Lâm bình nguyên sẽ sụt giảm thảm hại. Thậm chí, việc ba hành tỉnh phương đông hình thành cục diện độc lập trên thực tế, phục bích Cống Đa Lâm vương quốc cũng không phải là không thể xảy ra.

Cho nên, sau thời sơ đại quốc vương, các đời quốc vương Cáp Nhĩ Tư đều dồn phần lớn tâm trí vào việc tranh đoạt quyền kiểm soát thành Phong Nhiêu Tự Do với ba hành tỉnh phương đông.

Lần này lựa chọn Phong Nhiêu thành làm nơi tổ chức hội tỷ võ kỵ sĩ, rất khó nói quốc vương Cáp Nhĩ Tư - Kiều Trị tam thế không tính toán tới chuyện mượn cớ đính hôn của con trai để thừa cơ mở rộng ảnh hưởng tại tòa thành này.Tuy nhiên, chuyện này tạm thời chẳng liên quan gì tới Lâm Khắc.

Những màn đấu đá, tranh quyền đoạt lợi của tầng lớp thượng tầng vương quốc đối với một tiểu Nam tước vùng biên ải như hắn mà nói vẫn còn quá đỗi xa vời.

Lần này hắn đến Phong Nhiêu thành chẳng qua chỉ để góp vui mà thôi.

Bố cục tổng thể của Phong Nhiêu thành cũng tương tự thành Mạc La Ni Tạp, có điều quy mô lớn hơn rất nhiều.

Tòa thành tụ tập hơn bốn mươi vạn dân này, riêng khu nội thành đã rộng tới hai mươi kilômét vuông, nếu tính thêm cả nông trang, đồng cỏ và trang viên xung quanh thì diện tích phải lên tới một trăm kilômét vuông, bằng cả đảo La Mạn.

Phong Nhiêu thành nằm ngay nơi giao hội giữa Tiểu Công Chúa hà và Phong Nhiêu hà. Hai dòng sông này nổi tiếng êm đềm, hiền hòa, thế nên chính quyền thành đã bắc ba cây cầu treo qua sông, chia toàn bộ nơi này thành ba khu vực.

Đám người Lâm Khắc đến Phong Nhiêu thành vào lúc đêm xuống, vừa hay có thể thưởng ngoạn cảnh vạn nhà lên đèn của cả ba khu thành.

Trong đó, Tây thành khu rực rỡ ánh đèn nhất, đặc biệt là dải đất ven sông trông chẳng khác nào dải ngân hà rơi xuống trần gian.

Ánh sáng ở Đông thành khu tuy thưa thớt hơn, nhưng phạm vi chiếu sáng của mỗi ngọn đèn lại rất rộng. Thậm chí có những tòa kiến trúc đứng sừng sững, hiện lên rõ mùng một trong đêm tối, tựa như khu Lục Gia Chủy ở kiếp trước của Lâm Khắc, toát lên vẻ phồn hoa đô hội, xa hoa lộng lẫy.

Đèn đuốc ở Nam thành khu là thưa thớt nhất, chìm trong một vùng u tối. Nếu không nhờ mấy con đường chính còn có đèn đường chiếu sáng, Lâm Khắc còn tưởng nơi đây chẳng có ai sinh sống.

Chỉ cần nhìn qua sự phân bố ánh đèn là có thể thấy rõ sự khác biệt giữa ba khu thành này, thậm chí ở đây còn lưu truyền một câu ca dao:

Ôm quý phụ là kẻ giàu sang.

Nằm dưới váy công chúa là kiếp nô lệ.

Vừa ôm quý phụ lại vừa ngủ dưới váy công chúa, ấy mới là bậc quý nhân!

Chẳng chút nhã nhặn nào, nhưng lại mang đậm nét tiếu lâm trần tục của những câu ca dao truyền miệng chốn thôn quê.

Trong ba câu ca dao này, "quý phụ" chính là chỉ Phong Nhiêu hà, còn "công chúa" là chỉ Tiểu Công Chúa hà.

Kẻ giàu sang "ôm quý phụ" ngụ tại Tây thành khu nằm ở bờ tây Phong Nhiêu hà. Nơi này có diện tích rộng lớn nhất, cũng là nơi sinh sống của tầng lớp thị dân chiếm đại đa số dân cư Phong Nhiêu thành. Hàng trăm nhà máy các loại nằm rải rác hai bên bờ hạ lưu Phong Nhiêu hà, chính là trụ cột kinh tế của tòa thành. Trong khi đó, khu vực thượng lưu lại là chốn phong nguyệt sầm uất, các cửa tiệm hàng hóa xa xỉ mọc lên như nấm, được coi là thiên đường mua sắm của Bắc Cảnh.

Còn đám người nghèo hèn "ngủ dưới váy công chúa" thì sống tại Nam thành khu bên bờ nam Tiểu Công Chúa hà. Mức độ phát triển ở đây là thấp nhất, diện tích chưa tới một phần mười Tây thành khu, nhưng dân số lại lên tới năm vạn người, đông hơn cả tổng dân số của thành Mạc La Ni Tạp.

Riêng bậc quý nhân "vừa ôm quý phụ lại vừa ngủ dưới váy công chúa" thì cư ngụ tại Đông thành khu, nằm ở bờ đông Phong Nhiêu hà và bờ bắc Tiểu Công Chúa hà.

Nơi đây có dân số ít nhất, tính cả đám thị tùng hầu hạ quý tộc cũng chưa tới một vạn người, nhưng diện tích lại rộng hơn cả Nam thành khu.

Vượt quá một phần ba diện tích của Tây thành khu.

Phần lớn đất đai đều được quy hoạch làm trang viên, biệt viện cho quý tộc các phương tại Phong Nhiêu thành, thậm chí nơi đây còn có một hành cung của Cáp Nhĩ Tư vương thất.

Có thể nói, kẻ sống ở nơi này, trong nhà ít nhất cũng phải có tước vị Bá tước, hoặc chí ít cũng là quý tộc cấp bậc Phong địa Tử tước.

Tuy nhiên, hạng phong địa quý tộc như Lâm Khắc, dù chỉ là một Nam tước thì vẫn thừa sức mua một tòa trang viên biệt viện tại đây.

Có điều cái giá của nó đủ để khiến đại đa số Phong địa Nam tước phải xót xa đứt ruột.

Trừ phi một lòng một dạ muốn chen chân vào chốn thành thị phồn hoa, bằng không sẽ chẳng có vị Phong địa Nam tước nào dại dột bỏ ra hàng ngàn đồng tiền vàng để mua một căn biệt viện mà một năm ở chẳng nổi hai lần, lại còn phải tốn thêm tiền thuê người trông nom dọn dẹp cả.Thế chẳng khác nào bỏ tiền ra rước kẻ khác vào ở trong hào trạch của mình sao?

Bởi vậy, đối với những người như Lâm Khắc mà nói, trọ lại khách điếm vẫn là thượng sách.

"Cái gì? Căn phòng này của ngươi xây bằng vàng hay sao? Chỉ ở một đêm mà dám đòi tới một kim tệ?"

Tại đại sảnh của một khách điếm, sau khi nghe tiểu nhị báo giá phòng, An Na lập tức nổi trận lôi đình.

Bản dịch được đăng duy nhất ở Bạch Ngọc Sách VIP-Reader!